các bạn có thể tham khảo thêm địa chỉ cho thuê vps và mua bánquần độn mông & sửa laptop thái hà, sửa chữa laptop uy tín tại hà nội uy tín với hàng nghìn khách hàng đã lựa chọn và tin dùng?
08:28 EST Thứ hai, 27/01/2020

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 2026

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 55491

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4428609

Liên kết site

Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp
Trang thông tin tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp
Bộ Khoa học và công nghệ

Danh ngôn cuộc sống

Quảng cáo

Khu vực dành cho quảng cáo.  Liên hệ với Administrator

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, website này cần thêm mục gì

Diễn đàn

Thông tin hoạt động của học sinh sinh viên

Tra cứu điểm

Thời khóa biểu

Tất cả các ý kiến trên

Trang nhất » Tin Tức » Văn hóa - văn nghệ

“…Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi…”

Thứ sáu - 14/09/2012 14:04
Mường Lát - tên gọi ngắn gọn và đặc biệt đã đi vào tâm trí tôi với ấn tượng về một vùng núi rừng xa xôi, nhiều gian khó nhưng không kém phần thi vị qua những bài thơ, câu văn thuộc lòng từ thời đi học.
“…Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi…”

“…Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi…”

        Mùa hè năm nay, chúng tôi được lên với Mường Lát theo chương trình tình nguyện của Tỉnh đoàn. Chuyến xe đưa chúng tôi đến với Mường Lát sau một hành trình dài. Đường đi chuyển từ đồng bằng lên vùng đồi núi, càng đến gần Mường Lát, càng trở nên quanh co, khúc khuỷu, hẹp dần và gồ ghề hơn nhiều lần. Chúng tôi được tách ra thành năm đoàn, đến với các xã khó khăn. Đoàn chúng tôi may mắn được ở tại xã Trung Lý, một xã gần nhất của huyệnNgày chúng tôi đến Mường Lát là một ngày mưa, những hạt mưa giăng mắc khắp đỉnh núi, trên các ngọn cây. Người ta nói rằng mưa đã buồn, mưa miền núi còn buồn hơn bởi không khí u trầm, tĩnh mịch. Nhưng hôm ấy, khi đến nơi, chúng tôi đã nhận được sự đón tiếp nồng hậu của các cán bộ và nhân dân xã, tạo tâm lý thoải mái, yên tâm cho sự bắt đầu những ngày sống ở đây.
       Ấn tượng đầu tiên với tôi là khung cảnh núi rừng hùng vĩ với cơ man nào là tre, luồng và cây nào cũng đã ra hoa như những nhân chứng của thời gian đằng đẵng. Chúng tôi được sống trong các nhà dân ở bản Táo - bản trung tâm xã. Nơi đây, có trường cấp I, cấp II, Ủy ban nhân dân xã, bưu điện, vài hàng tạp hóa nhỏ và có đường giao thông liên huyện chạy qua. Người dân ở đây chủ yếu là người dân tộc Thái. Có phải vì sống ngay trung tâm xã, có đường giao thông giao lưu giữa các vùng mà thanh niên ở đây vui vẻ, hòa đồng, mạnh dạn và trông dáng hiện đại. Họ chủ yếu mặc âu phục, có những em cũng nhuộm tóc và trang điểm như những cô gái người Kinh. Chỉ những bà cụ già vẫn mặc những bộ trang phục truyền thống và duy trì khung cửi dệt quần áo.
        Buổi tối đầu tiên ở vùng núi, hơi lạnh của sương đêm lan tỏa khiến chúng tôi phải đắp chăn ngay trong mùa hè (có những hôm trời mưa, phải dùng cả chăn bông để đắp. Vì thế, nhà nào cũng để sẵn chăn trong góc - những tấm chăn tự dệt với hoa văn cầu kỳ, màu sắc sặc sỡ, ấm áp).
          Công việc chính khi lên đây là cùng bộ đội biên phòng và dân bản trồng rừng và sửa đường liên bản. Mỗi buổi sáng, từ nơi ở, chúng tôi được đưa vào các bản xa - nơi người Mông sinh sống. Đường đi ven núi khó khăn và khúc khuỷu nhưng vô cùng thơ mộng. Dưới triền núi trải dài là ruộng bậc thang xanh mướt mát, điểm xuyết vài ba ngôi nhà cũ. Những ngày này, hôm nào cũng mưa - những cơn mưa nhỏ và dai dẳng – khiến cho không khí mát hơn, buổi sớm mai chuyển hơi lạnh. Vì thế, trên các đỉnh núi, khói bếp của người Mông, hòa với sương núi và mây tạo thành một lớp dày đặc ôm các ngọn núi. Núi trập trùng, mây và sương trắng xóa giăng mắc, trườn trên các sườn núi khiến cảm giác như đứng trên núi, ta có thể vốc từng vốc mây trên tay mình. Rừng cây xanh mướt, những sườn núi nhấp nhô, những dải mây dày quấn quanh ngọn núi và đây đó, những chỗ mây chỉ đọng lại từng đám cảm giác như chỉ một cơn gió nhẹ thôi, những đám mây ấy sẽ lăn dần xuống chân núi. Khung cảnh vừa nên thơ, vừa hùng vĩ khiến ta có cảm giác như mình chính là một nhân vật thần tiên đang dạo bước ở chốn bồng lai tiên cảnh. Càng lên cao mây càng dày và đôi lúc, có thể nhìn thấy rất rõ gió thổi mây bay giống như những dải lụa ai thả rơi trong không gian và cảm giác được dường như mây bay ngang mặt, chạm thật khẽ trên má.
          Trời mưa khiến cho đường lên núi càng trở nên khó khăn gấp nhiều lần. Chúng tôi - những người sinh ra ở đồng bằng đã quen bước trên đường phẳng, nay leo lên đường đất lẫn đá nhỏ quanh co, ngoằn nghoèo và trơn như bôi mỡ. Và vắt, những con vắt nhỏ bám dai và rất khẽ trên chân chỉ nhìn thấy mà không cảm nhận được. Đường lên dài, những quả núi này gối đầu lên quả núi kia nên chuyện “vồ ếch” trở nên quá đỗi bình thường.. Có những chỗ loay hoay không biết làm thế nào để leo lên được. Trong khi đó, những em, những bạn người Mông đi ủng, mặc váy xòe xinh xắn bước phăm phăm, thậm chí chạy băng băng lên núi. Và các em, các bạn trở thành những người giúp đỡ chúng tôi lên được đến đỉnh núi, nơi trồng rừng. Mặc dù đường trơn, mặc dù áo quần lấm lem bùn đất và mưa ướt đầm vai áo nhưng chúng tôi rất vui vẻ, tiếng nói cười, tiếng cuốc, tiếng dao phát cây nhộn nhịp.
           Người Mông sống sâu trong núi, ở những ngôi nhà gỗ mái tranh bạc màu sương gió. Hầu hết những người già không biết tiếng Kinh, họ nói với nhau bằng tiếng của dân tộc mình với giọng điệu trong trẻo, nghe vui tai. Những em được đi học đều nói thông thạo hai thứ tiếng. Các em chăm chỉ, thật thà, cởi mở nhưng hay thẹn thùng đứng riêng ra một góc, cười rúc rích. Các em gái vẫn mặc trang phục truyền thống đi lao động, trông xa giống như những cánh bướm nhiều màu sắc rập rờn bên những cây xoan, cây lát mới trồng khiến cho khung cảnh núi rừng thêm sinh động.   Nói chuyện với các em nhiều mới thấy thương cho những cuộc đời còn nhiều vất vả. Hầu hết các em chưa học hết lớp 12 đều phải nghỉ học ở nhà giúp cha mẹ làm nương rẫy mưu sinh.
          Vì đường xa, chúng tôi ở lại trưa trên núi, ăn cơm nắm, muối vừng và ở trong lều tạm trên rẫy của những gia đình người Mông. Ngồi trong lều, ngước nhìn trên mái có thể thấy những khoảng trời trắng đục và những hạt mưa khe khẽ rơi qua khe nứa. Màu áo xanh tình nguyện hòa với màu áo xanh biên phòng, màu váy áo sặc sỡ hay màu xám của áo những em gái, những chàng trai người Mông làm đẹp thêm khung cảnh núi rừng.
           Những ngày đi trồng rừng, ấn tượng sâu sắc nhất trong tâm trí tôi là hình ảnh trưởng bản Khằm 1 người Mông, mới 22 tuổi. Gương mặt trẻ măng, trắng và đôi mắt sáng, vóc dáng nhanh nhẹn, lối nói chuyện thật thà và thông minh. Anh thoăn thoắt đi lại trên núi, trồng cây. Anh trồng rừng đã thành kỹ năng, không cần đo đạc, dường như anh hiểu từng hơi thở của cây cối, của đất mẹ.
           Ngày đi làm đường, chúng tôi lại đến với một bản người Mông nữa ở sâu trong núi có cái tên lạ tai là bản Ma Hát. Ngay đầu bản có con suối nhỏ chạy qua, cả bản có 24 hộ, phần lớn sống tập trung gần nhà văn hóa, một ít sống rải rác trên núi. Ấn tượng đầu tiên của tôi khi bước chân vào bản vẫn là những chiếc váy xòe nhiều màu sắc phơi trên các dây phơi trước nhà. Những chiếc váy nổi bật giữa màu gỗ cũ kỹ, giữa những mái nhà đã bạc vì sương gió gợi liên tưởng đến những con người nơi đây, họ vẫn vươn lên, vượt mọi gian khó, khắc nghiệt. Bên hiên nhà, những em bé với đôi mắt linh hoạt chơi đùa, nói cười rộn ràng. Nhìn thấy người lạ, các em nhìn hơi ngạc nhiên rồi cười bỏ chạy mỗi khi chúng tôi vẫy gọi. Trên con đường đất nhỏ, những bà, những chị cắm cúi gùi rau, gùi sắn, gùi những bó luồng đã được chặt thành từng khúc đều tăm tắp, chân bước thoăn thoắt, những chiếc váy nhiều màu sắc rập rờn theo mỗi bước đi.
Đến với những người dân tộc thiểu số nơi núi rừng xa xôi, chúng tôi mới thấy cuộc sống của mình thật may mắn và sung túc. Và, thấy có lỗi với những ý nghĩ tham lam và những đòi hỏi của cá nhân. Cuộc sống đầy đủ, vội vàng khiến chúng ta trở nên ích kỷ, vụ lợi hơn. Những ngày ở đây, chúng tôi như đang sống trong những thời gian, trong một cuộc sống rất khác. Không lo toan, không ganh đua, tranh chấp, chỉ có những niềm vui rất hiền, những ý nghĩ rất đẹp về cuộc đời và con người.
          Buổi tối cuối cùng ở Trung Lý, chúng tôi đã có một đêm đốt lửa trại thật vui với dân bản và bộ đội biên phòng. Những cái nắm tay thật chặt, những nụ cười vô tư, hồn nhiên đã gắn kết mọi người và thoáng nỗi buồn của giờ phút sắp chia xa.
          Ngày khoác ba lô trở về với cuộc sống thường nhật, tôi cảm thấy nuối tiếc và ước thời gian có thể trở lại, ước đây chỉ mới là ngày xuống xe về bản để mình có thể làm được nhiều hơn, sống có ý nghĩa hơn nữa. Ấn tượng về những con đường lên bản ngoằn nghoèo, con đường đá dẫn lên đồn biên phòng, con suối nhỏ ở đầu bản Táo với những địa danh bản Táo, bản Khằm, bản Ma hát, những mái nhà gỗ bạc màu sương gió, những chiếc váy xòe nhiều màu sắc, những gương mặt, giọng nói, tiếng cười vẫn còn đọng mãi trong tôi.
Và, câu nói của anh liên lạc rất trẻ - vốn là một người con của bản Khằm - vẫn còn vang mãi: “Ngày mai, các anh chị về rồi, mỗi khi trở lại bản Khằm, nhìn lên núi, có thể rơi nước mắt được…”

Tác giả bài viết: Phương Nga - Phòng KH&HTQT

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn