các bạn có thể tham khảo thêm địa chỉ cho thuê vps và mua bánquần độn mông & sửa laptop thái hà, sửa chữa laptop uy tín tại hà nội uy tín với hàng nghìn khách hàng đã lựa chọn và tin dùng?
00:24 +07 Thứ ba, 24/07/2018

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 17


Hôm nayHôm nay : 71

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 40303

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3348024

Liên kết site

Tổng cục dạy nghề
Bộ lao động thương binh và xã hội
Bộ Khoa học và công nghệ

Danh ngôn cuộc sống

Quảng cáo

Khu vực dành cho quảng cáo.  Liên hệ với Administrator

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, website này cần thêm mục gì

Diễn đàn

Thông tin hoạt động của học sinh sinh viên

Tra cứu điểm

Thời khóa biểu

Tất cả các ý kiến trên

Trang nhất » Tin Tức » Giáo dục - đào tạo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề vùng Bắc Trung bộ đến năm 2020

Thứ năm - 04/09/2014 09:48
Trong những năm qua kết quả đào tạo nghề của vùng Bắc Trung Bộ có nhiều khởi sắc, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng nhưng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá về chất lượng dạy nghề.

Vùng Bắc Trung Bộ gồm 06 tỉnh từ Thanh hóa đến Thừa Thiên Huế với tổng diện tích là 51.459.200 Km2, chiếm 15,54% tổng diện tích của cả nước, trên trục giao thông Bắc Nam về đường sắt, bộ; nhiều đường giao thông hướng Đông Tây nối Lào với Biển Đông. Có hệ thống sân bay (Thọ Xuân, Vinh, Đồng Hới, Phú Bài), bến cảng (Nghi Sơn, Cửa Lò, Cửa Hội, Vũng Ánh, Sơn Dương, Cửa Gianh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Thuận An, Chân Mây...) có các đầm phá thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy hải sản, là trung tâm du lịch quan trọng của đất nước (động Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế.v.v.) tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và các nước Lào, Thái Lan, Myanmar. Bắc Trung Bộ có nhiều khoáng sản quý, đặc biệt là đá vôi nên có điều kiện phát triển ngành khai thác khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng. Đây là ngành quan trọng nhất của vùng, ngoài ra vùng còn có các ngành khác như chế biến gỗ, cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm,… Các trung tâm có nhiều ngành công nghiệp: Thanh Hóa, Vinh, Huế với qui mô vừa và nhỏ. Cơ sở hạ tầng, công nghệ, máy móc, nhiên liệu cũng đang được cải thiện và từng bước cung ứng được nguồn nhiên liệu, năng lượng cho toàn Vùng. Năm 2012, dân số trong Vùng khoảng 10.189.600 người chiếm 11,48% số dân cả nước. Năm 2012, số lao động có việc làm là 6.159.100 người chiếm khoảng 11,71 % tổng số lực lượng lao động cả nước.

Những kết quả đạt được

Trong những năm qua kết quả đào tạo nghề của vùng Bắc Trung Bộ có nhiều khởi sắc, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng. Tổng tuyển sinh của vùng năm 2013 đạt 202.400 người (chiếm khoảng 11,69% của cả nước), trong đó: tuyển sinh cao đẳng nghề (CĐN) đạt 7.260 người (chiếm 8,26% tổng số tuyển sinh CĐN cả nước), tuyển sinh trung cấp nghề (TCN) đạt 20,966 người (chiếm 16,35% tổng số tuyển sinh TCN cả nước), tuyển sinh sơ cấp nghề (SCN) và dạy nghề dưới 3 tháng đạt 174.174 người (chiếm 11,49% tổng số tuyển sinh SCN và dạy nghề dưới 3 tháng cả nước). Tỉnh có số lượng tuyển sinh cao nhất trong Vùng là Nghệ An với 83.875 người (chiếm khoảng 41,44% tổng số cả Vùng), Thanh Hóa với 69.570 người (chiếm khoảng 34,37% tổng số cả Vùng); những tỉnh có số lượng tuyển sinh thất như Vùng là Quảng Trị (chiếm khoảng 3,8% tổng số cả vùng), Thừa Thiên – Huế (chiếm khoảng 4,9% tổng số cả Vùng). Mạng lưới cơ sở dạy nghề toàn vùng có 154 trường CĐN, TCN và Trung tâm dạy nghề (TTDN) chiếm khoảng 11,49% tổng số trường CĐN, TCN và TTDN cả nước, trong đó có 17 trường CĐN (chiếm 10,3% tổng số trường CĐN trên cả nước), 40 trường TCN (chiếm 13,9% tổng số trường TCN trên cả nước)  và 97 TTDN (chiếm 11,1% tổng số trường, TTDN trên cả nước). Tỉnh có mạng lưới CSDN nhiều nhất trong Vùng là Nghệ An có 45 trường, TTDN (chiếm 29,2% cả Vùng), Thanh Hóa có 41 trường, TTDN (chiếm 26,6% cả Vùng); tỉnh có mạng lưới cơ sở dạy nghề ít nhất là Quảng Bình (chiếm 6,5% cả Vùng) và Quảng Trị (chiếm 10,4%). Mạng lưới các trường, trung tâm dạy nghề đã được thành lập theo quy hoạch và được phân bổ ở tất cả các vùng miền, ở tất cả các loại hình công lập, tư thục, doanh nghiệp trên phạm vi toàn Vùng. Các CSDN tư thục chiểm tỷ lệ 16,2% trong Vùng, trong đó có 5 trường CĐN; 01 trường TCN; 19 TTDN. Có 06 trường cao đẳng nghề trong Vùng (trên tổng số 40 trường) được lựa chọn để tập trung đầu tư thành trường nghề chất lượng cao đến năm 2020. Về các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề, Đội ngũ giáo viên dạy nghề cơ hữu trong Vùng là 3.539 người chiếm khoảng 9,01% tổng số giáo viên, giảng viên cơ hữu trên toàn quốc, trong đó giảng dạy trong các trường CĐN là 1.074 người (chiếm 7,52% số lượng giáo viên, giảng viên dạy trong trong các trường CĐN trên toàn quốc), giảng dạy trong các trường TCN là 1.170 người (chiếm 10,76% số lượng giáo viên dạy trong trong các trường TCN trên toàn quốc), dạy trong các TTDN là 1.295 người (chiếm 9,18% số lượng giáo viên dạy trong trong các TTDN trên toàn quốc); Những tỉnh có số lượng giáo viên, giảng viên nhiều nhất trong Vùng là Nghệ An có 1.458 người (chiếm 41,2% giáo viên, giảng viên cả Vùng), Thanh Hóa có 938 người (chiếm 20% giáo viên, giảng viên cả Vùng); tỉnh có số lượng giáo viên thấp nhất là Quảng Bình và Quảng Trị. Chất lượng đội ngũ giáo viên của vùng ngày càng được nâng cao, số lượng giáo viên trong Vùng có trình độ đại học là 1.755 giáo viên, giảng viên (chiếm 49,6% số giáo viên, giảng viên trong Vùng), trình độ sau đại học là 401 người (chiếm 11,33% số giáo viên, giảng viên trong Vùng). Về Chương trình dạy nghề được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ LĐTBXH ban hành và được phát triển gắn với thực tiễn sản xuất, trên cơ sở phân tích nhiệm vụ, công việc của người lao động, gắn với đặc thù của thị trường lao động trong Vùng, được thiết kế các mô đun đào tạo tích hợp giữa lý thuyết và thực hành thay thế cho chương trình dạy nghề theo môn học được xây dựng tách rời giữa lý thuyết và thực hành có sự tham gia của doanh nghiệp. Về cơ sở vật chất, thiết bị của các cơ sở dạy nghề đã được tăng cường, đảm bảo được các thiết bị thực hành cơ bản, các trường được đầu tư từ Chương trình mục tiêu quốc gia, nhiều thiết bị được tăng cường, bổ sung phù hợp với kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh dịch vụ, có một số nghề thuộc một số trường cao đẳng nghề được đầu tư thiết bị khá hiện đại tương ứng với thiết bị trong sản xuất của các doanh nghiệp.



Trong năm 2013, vùng Bắc Trung bộ đã tuyển sinh học nghề cho trên 200 nghìn người


Những thành tựu trên đạt được là do các trường trong Vùng đã được các tỉnh quan tâm đầu tư, đặc biệt là có sự đầu tư lớn của “Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề”, theo đó kinh phí đầu tư cho Vùng từ nguồn kinh phí của Dự án “Đổi mới và phát triển dạy nghề” và Dự án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” trong giai đoạn 2011-2013 là 777.861 triệu đồng, trong đó tỉnh được đầu tư nhiều nhất là Nghệ An với 292.501 triệu đồng và tỉnh được đầu tư ít nhất là Quảng Trị với 49.250 triệu đồng, nguồn vốn đầu tư đó phù hợp với nhu cầu đào tạo nghề để đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của từng tỉnh theo từng giai đoạn. Về kiểm định chất lượng dạy nghề, trong Vùng đã có 16 cơ sở dạy nghề được kiểm định chất lượng, trong đó có 09 trường CĐN, 06 trường TCN và 01 TTDN, số lượng cơ sở dạy nghề được kiểm định chưa nhiều và phân hóa khá cao giữa các tỉnh.  Chất lượng và hiệu quả dạy nghề có bước chuyển biến tích cực (khoảng 70% học sinh, sinh viên tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số CSDN tỷ lệ này đạt trên 90%) do các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy nghề đã được cải thiện; Theo khảo sát của Viện Khoa học dạy nghề cho thấy, các doanh nghiệp đánh giá kỹ năng nghề của học sinh tốt nghiệp các cơ sở dạy nghề đã được nâng lên, có 80% - 85% số lao động qua đào tạo nghề được sử dụng đúng trình độ đào tạo, trong đó trên 30% có kỹ năng nghề từ khá trở lên. Nhiều trường CĐN, TCN đã thành lập trung tâm hoặc bộ phận chuyên trách thực hiện công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm và quan hệ với doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động; chủ động thực hiện tư vấn tuyển sinh bằng nhiều hình thức khác nhau; tư vấn tìm việc làm dưới hình thức ngày hội việc làm, sàn giao dịch lao động và việc làm, đưa học sinh, sinh viên đi thực tập trong doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đã bước đầu quan tâm đến việc phối hợp với các trường, trung tâm để nâng cao chất lượng dạy và học trong các cơ sở dạy nghề.


Một số hạn chế và nguyên nhân

Chất lượng đào tạo nghề mặc dù đã ngày càng được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động về tay nghề, về các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm... Kỹ năng nghề, năng lực nghề nghiệp của lao động trong Vùng vẫn còn khoảng cách so với các Vùng trọng điểm kinh tế khác trong nước. Dạy nghề chủ yếu vẫn theo hướng cung; dạy theo những khóa học, giáo viên và cơ sở vật chất sẵn có, chưa chủ động thiết kế các khóa đào tạo năng động, linh hoạt theo nhu cầu của người sử dụng lao động. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của một số cơ sở dạy nghề hiện nay còn nhiều thiết bị còn lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu của công nghệ mới, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Quy mô đào tạo tăng mạnh nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, cơ cấu đào tạo theo trình độ chưa hợp lý, đặc biệt là nhu cầu lao động trình độ tay nghề cao cho các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm, xuất khẩu lao động và nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn của toàn Vùng. Cơ cấu ngành nghề đã được điều chỉnh nhưng vẫn chưa phù hợp với nhu cầu thường xuyên thay đổi của thị trường lao động và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng tỉnh cũng như trong cả Vùng. Các chính sách đặc thù của từng tỉnh chưa tạo ra được động lực đủ mạnh để thu hút người học nghề và người dạy nghề, chính sách tuyển dụng, sử dụng và chính sách tiền công, thu nhập chưa đủ hấp dẫn. Quan hệ giữa cơ sở dạy nghề trong Vùng với các doanh nghiệp trong và ngoài Vùng chưa chặt chẽ; xã hội hóa dạy nghề còn chậm do đó chưa huy động được nguồn lực của xã hội cho dạy nghề.


Những tồn tại trên chủ yếu do các nguyên nhân sau: Phần lớn các tỉnh/thành phố trong vùng vẫn chưa nhận thức đúng mức về vai trò của dạy nghề trong việc đào tạo nhân lực kỹ thuật là một trong những nhân tố quyết định thành công và phát triển bền vững kinh tế - xã hội của từng tỉnh cũng như trong toàn vùng. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dạy nghề ở cấp tỉnh và cấp huyện chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao. Năng lực của cán bộ làm công tác quản lý dạy nghề còn hạn chế, chưa mang tính chuyên nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Các điều kiện đảm bảo chất lượng còn hạn chế như: đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình dạy nghề, cơ sở vật chất, thiết bị. Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho dạy nghề tăng chậm, chưa tương xứng với tốc độ tăng quy mô và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Các doanh nghiệp chưa thấy được lợi ích và trách nhiệm của mình trong việc tham gia dạy nghề. Về cơ bản hiện nay việc tham gia quản lý và điều hành dạy nghề hầu như chưa có sự tham gia của giới chủ và cơ quan đại diện cho người lao động.


Mục tiêu và giải pháp


Mục tiêu dạy nghề giai đoạn 2011-2020 của khu vực Bắc Miền Trung là: Về tuyển sinh dạy nghề bình quân hàng năm đạt khoảng 210 ngàn người, trong đó trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề là 45 ngàn người (trong đó 10% HS, SV được dạy theo chương trình của các nghề trọng điểm quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế); trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng là 165 ngàn người. Mạng lưới trường, trung tâm dạy nghề đến năm 2020: Có 185 trường CĐN, TCN, TTDN, trong đó có 25 trường CĐN (tối thiểu 02 trường đạt đẳng cấp quốc tế; 05 trường CĐN được đầu tư một số nghề đạt cấp độ quốc tế, khu vực ASEAN); 40 trường TCN và 120 trung tâm dạy nghề; Mạng lưới có khoảng 32% số trường, trung tâm dạy nghề tư thục. Chất lượng dạy nghề được nâng cao đảm bảo 80% học sinh, sinh viên ra trường có việc làm ngay, đúng nghề, đúng trình độ, trong đó 100% số sinh viên được đào tạo đạt chuẩn khu vực và quốc tế đảm bảo có việc làm ngay trong các ngành kinh tế mũi nhọn và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc xuất khẩu lao động có kỹ thuật sang các nước phát triển.


Để thực hiện mục tiêu trên, phải thực hiện đột phá chất lượng dạy nghề. Trên cơ sở các nghề trọng điểm cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia đã được xác định cần tập trung đầu tư đồng bộ về chương trình, giáo trình, giảng viên, giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề,… cho từng nghề để nâng cao chất lượng đào tạo và định hướng phát triển dạy nghề đạt cấp độ khu vực và quốc tế đồng thời đào tạo nghề cho lao động nông thôn thông qua việc triển khai đồng bộ các giải pháp sau:


Thứ nhất, quy hoạch mạng lưới dạy nghề trong Vùng theo hướng phát triển một số trường CĐN có năng lực đào tạo một số nghề đạt chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế thuộc các lĩnh vực công nghiệp và Du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu lao động chất lượng cao cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các khu kinh tế Nghi Sơn, Đông Nam Nghệ An, Vũng Áng, Hòn La thuộc Vùng; Phát triển các trường CĐN, TCN của địa phương, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực của địa phương và Vùng góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, xóa đói giảm nghèo và giảm khoảng cách phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, địa phương; Phát triển các trung tâm dạy nghề để đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp, dạy nghề dưới 3 tháng nhằm phổ cập nghề và đào tạo lại nghề cho người lao động (trong đó chú trong đào tạo nghề cho các vùng núi phía bắc Nghệ An, Thanh Hóa) góp phần tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động  nhất là lao động nông thôn. Các tỉnh dành quỹ đất cho việc phát triển mạng lưới CSDN bao gồm: bổ sung thêm đất cho việc mở rộng các CSDN hiện có và cho việc xây dựng CSDN mới. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các CSDN bằng nhiều nguồn lực khác: Ngân sách địa phương; hỗ trợ từ ngân sách TW; huy động các nguồn lực từ doanh nghiệp và xã hội; từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất, thiết bị của các cơ sở dạy nghề trong Vùng.


Thứ hai, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề theo hướng chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề về trình độ đào tạo, nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, chuẩn kỹ năng nghề, đảm bảo đến năm 2020 có 100% giảng viên cao đẳng nghề đạt chuẩn quốc gia, một bộ phận đạt chuẩn quốc tế; Tăng nhanh số lượng giáo viên dạy nghề để đến năm 2020 đảm bảo chuẩn 1 giáo viên/18 học sinh, sinh viên, tăng cường đào tạo giáo viên đạt chuẩn theo hướng tuyển những người có trình độ đại học và đào tạo chuẩn hoá nghiệp vụ sư phạm dạy nghề và kỹ năng nghề, tuyển những người có trình độ đại học, có kỹ năng nghề và đào tạo chuẩn hoá nghiệp vụ sư phạm dạy nghề để trở thành giáo viên dạy trung cấp nghề, cao đẳng nghề; Định kỳ các địa phương tạo điều kiện cho giáo viên dạy nghề được bồi dưỡng, cập nhật phương pháp đào tạo, công nghệ, kỹ thuật mới và đi thực tế sản xuất tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong và ngoài nước; Giảng viên dạy các nghề trọng điểm cấp độ khu vực, quốc tế được cử đi đào tạo bồi dưỡng ở trong và ngoài nước để đạt chuẩn về nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề của các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới và được các nước đó công nhận cấp chứng chỉ và từng bước chuẩn hóa tiếng Anh cho giảng viên; Phát triển đội ngũ giáo viên dạy sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng; Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn.


Thứ ba, phát triển chương trình đào tạo theo hướng đối với các nghề trọng điểm cấp độ quốc gia áp dụng chương trình, giáo trình thống nhất trên toàn quốc; Đối với những nghề trọng điểm cấp độ khu vực, quốc tế tiếp nhận và áp dụng chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới theo chỉ đạo của ngành dạy nghề hoặc gắn với các các cơ sở dạy nghề của một số nước có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Vùng. Đối với các nghề khác các trường tự xây dựng trên cơ sở chương trình khung, khung chương trình; chương trình, giáo trình trình độ sơ cấp nghề được các cơ sở dạy nghề xây dựng trên cơ sở hướng dẫn của Bộ LĐTBXH. Lựa chọn xây dựng chương trình, giáo trình cho những nghề đặc đặc thù riêng có của vùng; Khuyến khích các cơ sở dạy nghề liên kết đào tạo theo chương trình tiên tiến của các trường mạnh trong khu vực và trên thế giới.


Thứ tư, chuẩn hóa cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề theo hướng tiếp nhận và áp dụng tiêu chuẩn CSVC và danh mục thiết bị dạy nghề chuẩn của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới đối với những nghề trọng điểm cấp độ khu vực và quốc tế; Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn CSVC và danh mục thiết bị dạy nghề cho các nghề trọng điểm quốc gia. Các cơ sở dạy nghề phái đảm bảo tiêu chuẩn về CSVC và danh mục thiết bị dạy nghề tối thiểu cho các nghề đào tạo.


Thứ năm, tăng cường gắn kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp theo hướng Phát triển mạng lưới trung tâm dịch vụ đào tạo và cung ứng nhân lực ở Vùng để gắn kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp; Huy động sự tham gia của doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp FDI) trong việc xây dựng chương trình, giáo trình ngắn hạn của các nghề ở trình độ SCN; Các doanh nghiệp thành lập cơ sở dạy nghề hoặc tổ chức dạy nghề tại doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp đó; Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin về nhu cầu việc làm (số lượng, chất lượng, nghề, trình độ đào tạo...) và chế độ đối với người lao động cho các cơ sở dạy nghề; Tăng cường đào tạo theo địa chỉ, đào tạo theo đơn đặt hàng của các doạnh nghiệp FDI và của các khu công nghiệp, khu kinh tế. Tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với nhu cầu của doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp có nhu cầu lao động qua đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng; Mở rộng hình thức dạy nghề theo hợp đồng đặt hàng đào tạo giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp đảm bảo cho người học nghề sau khi kết thúc khóa học người học có việc làm ngay.


Thứ sáu, tăng cường mối liên hệ giữa các địa phương trong Vùng theo hướng Hình thành trung tâm thông tin thị trường lao động của vùng để tổ chức thu thập thông tin chi tiết nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp trong vùng đến từng nhóm nghề, nghề làm cơ sở để xác định kế hoạch tuyển sinh, đào tạo của mỗi cơ sở dạy nghề trong Vùng. Tăng cường liên kết, phối hợp giữa các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh trong Vùng và các vùng khác để chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở dạy nghề phối hợp với các Trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn để đào tạo nghề cho lao động theo nhu cầu của doanh nghiệp trong Vùng và các Vùng khác có nhu cầu lao động lớn. Thứ bảy là liên kết đào tạo quốc tế về dạy nghề theo hướng mở rộng trao đổi và học tập kinh nghiệm của các nước phát triển về dạy nghề nhất là các nước có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Vùng như Hàn quốc, Đài Loan, Nhật Bản….; khuyến khích các trường trong Vùng hợp tác liên kết đào tạo với các trường mạnh ở các nước trên; Thu hút các nguồn vốn ODA để đầu tư phát triển dạy nghề; tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp FDI thành lập hoặc góp vốn thành lập trường nghề chất lượng cao tại các khu kinh tế như Khu kinh tế Nghi Sơn, Vũng Áng và Nghệ An./.
 


 

Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Hồng Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học SPKT Vinh

Nguồn tin: Tổng cục dạy nghề

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn